Categorized | Français

Chiếc gương

Le Miroir Chiếc gương
Conte du Japon Truyện cổ Nhật Bản
MAURICE BOUCHOR MAURICE BOUCHOR
 Il y a bien des siècles, dans un endroit de la province d’Echigo, appelé Mastuyama, vivaient deux jeunes époux dont on ne sait plus le nom. Cách đây nhiều thế kỉ, ở một vùng thuộc tỉnh Echigo có tên là Mastuyama, có một cặp vợ chồng mà người ta không còn nhớ rõ tên, sống với nhau rất hạnh phúc.
Ils avaient une petite fille. Họ có một bé gái xinh đẹp.
L’homme appartenait à la classe des Samouraïs ; mais il avait peu de fortune et vivait très simplement sur un petit bien dont il dirigeait lui-même la culture. Người chồng thuộc tầng lớp Samurai; nhưng anh ta có rất ít của cải, sống rất giản dị và luôn  gìn giữ văn hóa.
La femme avait les mêmes habitudes de simplicité ; dans tout ce qui l’entourait, on n’eut pas découvert un seul objet de luxe. Người vợ cũng giản dị như vậy; tất cả những thứ trên người cô ấy không có gì là xa xỉ.
 Elle était, de plus, fort timide, si bien que, parmi des personnes étrangères, elle n’avait pas d’autre désir que de passer inaperçue. Cô luôn rất kín đáo, đến mức mà, khi đứng giữa nơi đông người, cô luôn mong muốn là có thể đi qua mà không ai biết.
Un jour, le mari dut aller à Yeddo. Một ngày nọ, người chồng phải tới Yeddo.
Il y avait un nouveau souverain, et le seigneur d’Echigo se rendait à la capitale pour l’y saluer. Vị vua mới vừa đăng quang và lãnh chúa của vùng Echigo phải đến kinh đô để diện kiến nhà vua.
Le jeune homme faisait partie de la suite de ce personnage. Người chồng phải đi theo tháp tùng lãnh chúa.
Son absence ne fut pas longue. Những ngày vắng nhà không quá dài.
Heureux de quitter les splendeurs de la cour pour la vie modeste et familière qu’il aimait, il revint à Matsuyama dès que le seigneur d’Echigo le lui permit. Vui sướng khi được rời xa phồn hoa chốn cung đình quay về với cuộc sống gia đình bình dị, ngay khi được lãnh chúa cho phép, người chồng đã ngay lập tức trở về Mastuyama.
Il rapportait de la capitale quelques présents pour sa femme et pour sa fille : l’enfant eut une poupée, des friandises ; la mère eut un miroir de bronze argenté. Anh ta mang theo vài món quà từ kinh đô về cho vợ và con gái : đứa bé có một con búp bê, kẹo bánh; người vợ có một chiếc gương đồng tráng bạc.
Cet objet parut à la jeune femme une chose tout à fait merveilleuse, car c’était le premier qu’on eut apporté à Matsuyama. Đồ vật này đối với người vợ là một thứ vô cùng kì diệu, vì đó là lần đầu tiên nó xuất hiện ở vùng Mastuyama.
 Elle n’en comprenait pas l’usage, et elle demanda naïvement quel était ce joli visage souriant que l’on y voyait.  Người vợ không hề biết cách sử dụng và cô ấy đã ngây thơ hỏi chồng mình rằng khuôn mặt xinh đẹp đang tươi cười mà họ nhìn thấy trong gương là gì.
C’est qu’elle ne connaissait point sa propre figure, ne l’ayant jamais vue bien reflétée dans une surface claire et polie. Người vợ chưa từng nhìn thấy các đường nét trên gương mặt mình cũng như chưa bao giờ thấy khuôn mặt mình phản chiếu trên một bề mặt sáng và tinh tế như vậy.
Le mari, dans ses voyages, avait plus d’une fois vu des miroirs, bien que l’usage en fût peu répandu. Người chồng, trong chuyến đi của mình đã nhìn chiếc gương nhiều lần nên không quá lạ lẫm với việc sử dụng nó.
– Eh quoi ! lui dit-il, es-tu assez sotte pour ignorer que ce charmant visage est le tien ? Tu aurais pu le deviner. Anh ta bắt đầu nở nụ cười. Em không biết rằng khuôn mặt xinh đẹp này là của em sao? Lẽ ra em phải đoán ngay ra chứ.
Honteuse de son ignorance, elle n’osa pas faire d’autres questions, elle mit de côté le miroir, pensant toujours que c’était un objet bien mystérieux. Người vợ vô cùng ngại ngùng nên đã không hỏi thêm bất kì câu nào nữa, cô đặt chiếc gương sang một bên, luôn nghĩ rằng đó là một đồ vật  bí ẩn.
Elle ne compris qu’une chose : c’est que son image y apparaissait. Cô chỉ hiểu một điều duy nhất là “hình ảnh của mình xuất hiện trong đó.
Pendant de longues années, elle le tint soigneusement caché. Trong nhiều năm, người vợ luôn giấu kín chiếc gương.
Pourquoi ? On ne le sait pas au juste. Vì sao? Không ai biết chính xác lí do.
Peut-être tout simplement, parce que la moindre bagatelle, quand c’est un présent de l’amour, devient quelque chose de sacré. Có thể, đó đơn giản là một vật vô giá trị, khi nó là quà tặng tình yêu, thì nó sẽ trở thành một vật rất thiêng liêng.
 Alors, à certains jours, on le regarde avec tendresse ; mais on hésite à le montrer à d’autres personnes, qui ne pourraient pas le voir avec les mêmes yeux. Do đó, thỉnh thoảng họ nâng niu ngắm nhìn nó; nhưng họ không muốn cho người khác thấy vì cách người khác nhìn đồ vật của họ sẽ khác.
Cette femme avait une santé chétive : elle mourut jeune encore. Người vợ vốn rất yếu, cô đã qua đời khi còn rất trẻ.
Pendant sa dernière maladie, lorsqu’elle se sentit tout près de sa fin, elle prit le cher miroir et le donna à sa fille en lui disant : Trong những ngày cuối cùng sống trong bệnh tật, khi cảm thấy mình sắp từ giã cõi đời, cô lấy chiếc gương quý giá, đưa nó cho cô con gái và nói:
– Après ma mort, il faudra le regarder matin et soir, et tu m’y verras. N’est pas trop de chagrin. Puis elle mourut. –          Khi mẹ không còn trên đời này nữa, con hãy nhìn vào nó và con sẽ thấy mẹ. Đừng quá đau buồn con nhé. Rồi cô qua đời.
À partir de ce moment, la jeune fille ne manqua point de regarder, soir et matin, dans le miroir. Bắt đầu từ lúc đó, người con gái luôn nhìn vào gương.
 Aussi naïve que sa mère, à qui elle ressemblait beaucoup d’âme et de visage, elle ne sut point qu’elle y voyait, non pas les traits de sa mère, mais les siens. Cũng ngây thơ giống như người mẹ quá cố, người mẹ mà cô giống y chang cả về tâm hồn lẫn khuôn mặt, cô không hề biết rằng những gì cô đang nhìn thấy không phải là gương mặt của mẹ cô, mà là chính cô.
 Elle parlait à cette image, persuadée dans son cœur qu’elle se rencontrait ainsi avec sa mère ; et rien ne lui était aussi précieux que son miroir. Cô nói chuyện với hình ảnh trong gương, trong thâm tâm tự thuyết phục mình rằng cô đang gặp mẹ, và không có gì quý giá bằng chiếc gương này.
À la fin, son père s’aperçut que, tous les jours, elle regardait le miroir et même lui parlait. Cuối cùng, người cha nhận ra rằng hàng ngày cô con gái luôn nhìn vào gương và nói chuyện một mình.
 Il lui en demanda le motif. Ông đã hỏi con nguyên nhân.
– Je regarde ma mère, répondit la jeune fille. Con đã nhìn thấy mẹ, cô con gái trả lời.
Elle n’est plus pâle et fatiguée comme pendant sa dernière maladie ; elle paraît encore toute jeune. Mẹ không còn xanh xao và mệt mỏi như lúc mẹ bị ốm nữa; mẹ rất trẻ đẹp.
Il m’est bien doux de la retrouver ainsi et de m’entretenir avec elle. Thật vui vì con có thể thấy mẹ ở đây.
Alors, ému d’une tendre pitié, le père sentit ses yeux se remplir de larmes ; et, sans détromper son enfant, il lui dit : Người cha thực sự xúc động vì tình yêu của cô con gái, khóe mắt ướt nhòe, và nói với con gái:
– Oui, tu la retrouves là, comme je la retrouve en toi.  Đúng rồi, con tìm thấy mẹ ở đó, cũng như ta tìm thấy mẹ con ở trong chính con vậy.

Người dịch : Nguyễn Thu Huyền

Nguồn :boiteahistoires.free.fr

Leave a Reply

Đăng Nhập / Thoát

Email:
Password:
Remember   

Forgot Password