Categorized | 中国

Giải quyết giáo dục gia đình trong thời đại Internet?

nghiện internet

 

 

专家指导:如何化解网络时代家教危机? 

Nhận định của chuyên gia: Làm thế nào để giải quyết nguy cơ giáo dục gia đình trong thời đại Internet?

相关调查显示,随着网络时代的来临,青少年已经成为使用网络的主体人群,而与之相伴的是因为孩子上网而产生的问题逐年增多,亲子之间的关系也面临着许多新的问题。 Những điều tra gần đây cho thấy, cùng với sự bắt đầu của thời đại Internet, thanh thiếu niên đã trở thành độ tuổi sử dụng mạng internet đông đảo nhất, cùng với đó là những vấn đề nảy sinh do trẻ em lên mạng cũng ngày càng gia tăng, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái cũng phải đối mặt với ngày một nhiều vấn đề hơn.
专家认为,家长不能像十几年前一样,用拔网线的方式来解决这个问题,在网络时代进行家庭教育,家长更要努力建立起良好的亲子关系。 Chuyên gia cho rằng, cha mẹ không thể giống như 10 năm trước dùng biện pháp cắt mạng để giải quyết vấn đề này, giáo dục gia đình trong thời buổi internet này, cha mẹ cần phải cố gắng hơn nữa để xây dựng một mối quan hệ gần gũi tốt đẹp với con.

[尊重规律] 莫让父母爱成空

 [Tôn trọng các quy luật]  Không để tình yêu của cha mẹ trở thành hư không

“望子成龙,望女成凤”,“可怜天下父母心”,“父母之爱子,则为之计深远”……父母总希望把最好的爱带给孩子,但一定要用对方法。  “Mong con cái không lớn thành tài”, “Thương cho cha mẹ khắp thiên hạ”, “Tình thương cha mẹ như biển rộng trời cao”… Cha mẹ hi vọng có thể dành cho con nhiều tình yêu thương nhất, nhưng nhất định phải có phương pháp.
孙宏艳在一个校外培训机构曾看到一位奶奶给四岁的孙子报奥数班。 Tôn Hằng Diễm tại một cơ quan đào tạo ngoại khóa từng gặp một bà lão đăng kí lớp Olympic Toán học cho đứa cháu trai 4 tuổi.
这让她联想到许多在家庭教育中拔苗助长的行为,如要求孩子在很小的时候就背诵大量的古诗词、英语单词等。 Điều này khiến bà nghĩ đến hành vi đốt cháy giai đoạn trong giáo dục tại nhiều gia đình, như bắt con cháu học thuộc một lượng lớn thơ cổ hay từ mới tiếng Anh từ khi còn rất nhỏ.
  孙宏艳认为,家长应该充分尊重孩子的成长规律和特点,不可急于求成,应把教育的核心放在培养孩子的健康人格,按照孩子的天性而不是自己的意愿塑造孩子,尊重孩子休闲和娱乐的权利,不把对孩子的爱当作要求孩子的理由。 Tôn Hoằng Diễm cho rằng, các bậc phụ huynh cần tôn trọng tuyệt đối quy luật và đặc điểm phát triển của trẻ, không thể vội vàng, cần đặt trọng tâm của giáo dục vào việc bồi dưỡng một nhân cách tốt đẹp cho các con, phải hướng theo bản tính của con chứ không phải đắp nặn con theo ý muốn cá nhân.

[学会沟通]蹲下和孩子说话

 [Học cách giao tiếp] Ngồi xuống nói chuyện cùng con

在讲座现场,孙宏艳给现场家长展示了一个“孩子放学回到家里”的经典家教案例。 Tại hội trường buổi tọa đàm, Tôn Hoằng Diễm đã cho các bậc phụ huynh thấy một ví dụ giáo dục gia đình kinh điển “các con tan học trở về nhà”.
当孩子放学刚一进家门,母亲就问“今天怎么样?” Khi con vừa đi học về bước vào nhà, mẹ liền hỏi: “Hôm nay đi học thế nào?”
孩子犹疑地说:“还行。” Con do dự nói: “Cũng tạm được ạ.”
父亲立即插嘴:“什么叫还行?” Bố lập tức chen vào: “Tạm được là thế nào?”
孩子挤出一点笑容:“没被老师批评。” Con gượng cười: “Không bị cô giáo phê bình ạ.”
母亲紧接着质疑道:“没被批评就行吗?” Mẹ vội chất vấn: “Không bị phê bình là tạm được à?”
孩子无语。 Con không nói gì.
母亲又问:“什么时候你能得到一次表扬让我们高兴高兴?” Mẹ lại hỏi: “Khi nào mày mới được khen một lần để bố mẹ được vui lòng đây?”
后来孩子在父母的“左右夹攻”之下,悻悻地走开了。 Sau đó, dưới “gòng kìm tấn công” của bố mẹ, đứa con hậm hực bỏ ra ngoài.
“想必此情此景许多家长都不陌生。”  “Tôi nghĩ rằng chuyện này không lạ gì với nhiều bậc phụ huynh.”
孙宏艳评论道:“通过这段情景,不难看出父母和孩子看似在对话,实际上并没有取得实质性的沟通。” Tôn Hoằng Diễm nhận xét: “Thông qua câu chuyện này, không khó để nhận thấy bố mẹ nói chuyện như vậy với con, thực tế không đạt được sự giao tiếp thực chất.”
  科学研究表明,下午5点至7点是一个人生理活动的低潮期,迫切需要补充营养,恢复体力。   Nghiên cứu khoa học cho thấy, từ 5giờ đến 7giờ chiều là khoảng thời gian hạ triều trong hoạt động sinh lí của con người, nhu cầu bức thiết là bổ sung năng lượng, hồi phục thể lực.
因而,孙宏艳特别提醒家长朋友,应尽量避免在用餐时教育孩子,这是尊重孩子的表现,也是有效沟通的前提。 Vì thế, Tôn Hoằng Yến đặc biệt nhắc nhở phụ huynh và bạn bè, cần trách giảng dạy con cái vào giờ ăn, đây là biểu hiện của sự tôn trọng con cái, cũng là tiền đề của sự giao tiếp có hiệu quả.
她说,如今,许多孩子身上出现的问题,不少是家长过去没有遇到过的。 Bà nói, hiện nay, rất nhiều vấn đề các con gặp phải, cha mẹ đều chưa từng gặp.
新时期的父母,不仅要了解孩子的身体、起居、生活,更要了解他们的学习兴趣、爱好、心理。 Cha mẹ của thời đại mới, không chỉ cần hiểu về cơ thể, lối sống hàng ngày, cuộc sống của con, mà hơn nữa còn phải hiểu về việc hứng thú học tập, sở thích và tâm lí của con.
在沟通时,父母应该学会“蹲下身子说话”,与孩子保持同一高度,用孩子的眼光看待事物。 Khi giao tiếp với con, bố mẹ cần học được “ngồi xuống nói chuyện với con”, giữ một cao độ ngang bằng với con, nhìn mọi việc bằng đôi mắt của con.
这样,与孩子的沟通就会容易多了。 Như vậy, việc giao tiếp với con sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.

[对症开方]建立良好亲子关系

 [Kê đơn đúng bệnh] Xây dựng mối quan hệ cha mẹ – con cái gần gũi tốt đẹp

  一对家庭生活条件不错的夫妻,最近频频为教育孩子的事情发愁。 Một đôi vợ chồng có điều kiện gia đình khá, gần đây luôn cảm thấy buồn phiền vì chuyện giáo dục con cái.
此前,他们的孩子被送去美国读书,刚开始还比较适应,各方面考试也顺利过关。 Ngày trước, con họ được đưa sang Mĩ học tập, lúc đầu khá hòa nhập, thi các môn đều qua một cách thuận lợi.
可是他们对孩子始终不放心,最后决定轮流去美国照看孩子。 Nhưng họ từ đầu đến cuối luôn không an tâm vì con, cuối cùng quyết định lần lượt sang Mĩ coi chừng con.
特别是父亲,不在美国的时候还要求孩子每天向自己汇报包括作业完成、跑步锻炼在内的各种生活细节。 Đặc biệt là người cha, khi không ở Mĩ còn yêu cầu người con báo cáo chi tiết các mặt cuộc sống bao gồm cả những việc hoàn thành, tập chạy bộ.
孩子本身就对父母对自己施加的控制感到不满,加上独自一人在美国学习生活,没有伙伴,于是便开始沉迷网络游戏,最终导致成绩严重下滑,面临被学校除名的危险。 Bản thân người con cảm thấy không hài lòng với sự khống chế của bố mẹ, cộng thêm việc sống và học tập một mình tại Mĩ, không có bầu bạn, nên bắt đầu chìm vào game online, cuối cùng thành tích trượt dốc thảm hại, đứng trước nguy cơ bị nhà trường đuổi học.
  这是一个发生在孙宏艳周围的真实案例。 Đây là một ví dụ có thực quanh Tôn Hoằng Diễm.
她认为,问题的关键就在于这个家庭的亲子关系是“支配型”,即父母对孩子要求严格,习惯命令甚至强迫孩子去做事,可效果往往不尽人意,在这样的家教环境下,孩子往往反抗学业,逃避现实,表现出缺乏活力、冷淡、自卑等负面情绪。 Bà cho rằng, điểm mấu chốt của vấn đề chính là mối quan hệ cha mẹ với con trong gia đình này là “loại chi phối”, ông bố lại yêu cầu quá nghiêm khắc với con, quen với việc ra lệnh thậm chí ép buộc con làm chuyện này chuyện kia, mà hiệu quả thì không như mong muốn, trong môi trường giáo dục gia đình như thế này, con cái thường phản đối học tập, trốn tránh hiện thực, biểu hiện ra những tình cảm tiêu cực như thiếu sức sống, lạnh nhạt, tự ti…
除此之外,常见的亲子关系问题还表现为保护型、服从型、拒绝型与矛盾型等。 Ngoài ra, vấn đề trong quan hệ cha mẹ – con cái thường gặp còn có thể biểu hiện ở các dạng như dạng bảo vệ, dạng phục tùng, dạng từ chối và dạng mâu thuẫn.
而无论哪一种类型,都容易使孩子形成这样那样的性格缺陷。 Bất kể là loại nào, đều dễ khiến con cái hình thành những thiếu hụt trong tính cách như vậy.
  在孙宏艳看来,良好的亲子关系应该是相互尊重、相互信任、相互理解、相互帮助、相互学习的关系。 Tôn Hoằng Diễm cho rằng, mối quan hệ tốt đẹp giữa cha mẹ – con cái  phải là mối quan hệ tôn trọng lẫn nhau, tin tưởng lẫn nhau, hiểu, giúp đỡ và học tập lẫn nhau.
具体到上述每种类型的亲子关系,都可以有针对性地查找出需要改正的地方。 Cụ thể các dạng quan hệ cha me – con cái kể trên đều có thể trực tiếp tìm ra điểm cần sửa đổi.
如,保护型的父母应该少一点对孩子不必要的担心和焦虑,多多培养他们独立自主的行为习惯;服从型的父母应注意不要把孩子当做温室的花朵,否则将来孩子容易以自我为中心,缺乏责任心和忍耐力;拒绝型的父母要对孩子对一些关爱和信任;矛盾型的父母,要尽量统一育子观念,注意在不同时间和不同场合下对待孩子的态度。 Ví dụ, cha mẹ dạng bảo vệ cần giảm bớt sự lo lắng và sốt sắng không cần thiết cho con cái, bồi dưỡng hơn nữa thói quen hành vi độc lập tự chủ của chúng; cha mẹ dạng phục tùng cần chú ý không coi con cái như hoa trong nhà kính, nếu không sẽ khiến con trở thành trung tâm của chúnh mình, thiếu trách nhiệm và sự kiên nhẫn; cha mẹ dạng từ chối cần có tình yêu và niềm tin với con; cha mẹ dạng mâu thuẫn cần cố gắng thống nhất quan niệm giáo dục con cái, chú ý thái độ đối xử với con tại những thời điểm  khác nhau và địa điểm khác nhau.

 

Người dịch: Tuấn Lê

Nguồn: chinanews

Leave a Reply

Đăng Nhập / Thoát

Email:
Password:
Remember   

Forgot Password