Categorized | 中国

Khi bạn đang kiếm cớ, thì tôi nghĩ biện pháp.

asiangirl3大学毕业后, 我应聘到一家知名广告公司做人资专员….

你在找借口, 我在想办法 Khi bạn đang kiếm cớ, thì tôi nghĩ biện pháp.
大学毕业后, 我应聘到一家知名广告公司做人资专员. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi nhận lời mời đến một công ty quảng cáo nổi tiếng làm chuyên viên tư vấn.
某日在整理员工档案时, 我发现了一个有趣的现象: Một hôm, khi sửa sang lại hồ sơ nhân viên, tôi phát hiện một hiện tượng thú vị:
策划部总监苏晴和公司前台陈雯居然都是历史专业毕业生, Giám đốc bộ phận kế hoạch Tô Tình và nhân viên lễ tân Trần Văn đều tốt nghiệp chuyên ngành lịch sử,
而且两人毕业于同一年, 进公司的时间也差不多, hơn nữa hai người tốt nghiệp cùng một năm, thời điểm vào công ty cũng không khác nhau nhiều lắm,
陈雯的毕业院校甚至比苏晴的还要出名一些. trường đại học của Trần Văn thậm chí còn nổi tiếng hơn trường của Tô Tình một chút.
要知道, 策划总监的工资可是前台员工的六七倍! Phải biết rằng lương của một Giám đốc bộ phận kế hoạch cao gấp 6,7 lần lương của một nhân viên lễ tân!
这个奇怪的现象引起了我的兴趣, 我开始留意二人的言谈举止. Hiện tượng kỳ quái này làm tôi thấy hứng thú, tôi bắt đầu lưu ý lời nói cử chỉ của hai người.
经过一段时间的观察, 我发现, 苏晴做起事来总是雷厉风行, Qua một thời gian ngắn quan sát, tôi phát hiện, Tô Tình làm việc rất nhanh nhẹn,
是特别爱动脑筋的那种人, 对于公司分配的任务, 她相当用心, là mẫu người có tư duy nhanh nhạy, cô ấy khá là cẩn thận với các nhiệm vụ công ty giao cho,
没有条件创造条件也要将策划文案做得漂漂亮亮, dù không có điều kiện sáng tạo cũng cố gắng trình bày báo cáo sạch đẹp,
拿到的奖金总是别人的好几倍, 是一位极具”钱途” 的知性女白领; nên số tiền thưởng luôn cao hơn người khác, là một nữ trí thức rất có “tiền đồ”;
相比之下陈雯则懒散许多, 前台的工作比较清闲, 除了收发传真, còn Trần Văn thì lười nhác hơn rất nhiều, công việc lễ tân khá là nhàn hạ, ngoài việc gửi và nhận fax,
接听电话和接待客人, 基本上就没什么事情可做了, trả lời điện thoại và tiếp khách, thì cơ bản không có gì khác để làm,
所以大部分时间陈雯都在上网聊天, 要不然就是逛”淘宝” . vì vậy hầu hết thời gian Trần Văn lên mạng chat, hoặc vào những trang web như “Taobao.” .
这使我大致明白了造成二人之间差距的原因, Điều này giúp tôi hiểu được phần nào về nguyên nhân tạo ra chênh lệch giữa hai người,
而几次谈话则更加证实了我的猜测. mà qua vài lần trò chuyện thì tôi càng khẳng định được suy đoán của mình.
一天, 我加班到很晚, 下班时在电梯口遇见了苏晴. Một hôm, tôi làm thêm giờ đến khuya, lúc tan sở, tôi gặp Tô Tình ở cửa thang máy.
我们随意聊了几句, 然后一起去楼下的面馆吃宵夜. Chúng tôi tán gẫu vài câu, sau đó cùng đi ăn khuya ở tiệm mì tầng dưới.
吃饭时我问她: Lúc ăn, tôi hỏi cô ấy:
“苏总监, 大学读的是历史专业吧, 怎么想到做广告这行?” “Giám đốc Tô, cô học đại học là chuyên ngành lịch sử mà, sao lại đi làm ngành quảng cáo này?”
苏晴笑着说: Tô Tình cười nói:
“历史可是公认的冷门专业啊, 毕业时找工作那叫一个难, “Ngành lịch sử có ít cơ hội xin việc mà, tốt nghiệp xong tìm việc làm rất khó,
我投了好多份简历, 但通知我面试的公司却少之又少, tôi đã gửi rất nhiều hồ sơ xin việc, nhưng số công ty phỏng vấn tôi rất ít,
就算接到面试电话, 也最多是走个过场, 找到工作的机会相当渺茫. cho dù nhận được điện thoại phỏng vấn, cùng lắm cũng chỉ phỏng vấn rồi thôi, cơ hội tìm được công việc quá xa vời.
那时候我就不断地想办法把自己推销出去. Khi đó tôi không ngừng nghĩ biện pháp giới thiệu mình.
后来我发现本专业的毕业生最爱往学校, 史学编辑部等地方投简历, Về sau, tôi phát hiện những hồ sơ tôi gửi đến đúng nơi chuyên ngành đều là các trường học, ban biên tập lịch sử,
但那么多份简历投过去, 对方未必能仔细看, 所以我就避开那些地方, 开始留意其他行业. nhưng gửi nhiều hồ sơ xin việc như vậy, chưa chắc họ đã xem kỹ, cho nên tôi bỏ qua những chỗ ấy, bắt đầu chú ý đến ngành khác.
刚好这时候我发现咱们公司招实习生, 就跑来应聘了.” Đúng lúc đó tôi phát hiện công ty chúng ta tuyển sinh viên thực tập, nên tôi đến đây ứng tuyển.”
“当时公司录取你了没有?” 我好奇地问. “Lúc ấy, cô có trúng tuyển vào công ty không?” Tôi tò mò hỏi.
“开始公司不肯要我, 说只要广告或者新闻专业的在校生…” “Ban đầu công ty không nhận tôi, nói chỉ cần sinh viên chuyên ngành quảng cáo hoặc truyền thông…”
苏晴笑着说, Tô Tình cười nói,
“我就软磨硬泡, 说自己可以先试做半个月, 暂时不拿工资, “Tôi cứ kiên trì xin vào, nói rằng tôi có thể làm thử nửa tháng, tạm thời không nhận lương,
如果公司觉得我不行, 随时可以开除我. nếu như công ty cảm thấy tôi không làm được, có thể đuổi việc tôi bất kỳ lúc nào.
老总看我这么执着, 就同意了.” Tổng giám đốc thấy tôi kiên trì như vậy nên đồng ý.”
苏晴还告诉我, 试用的那半个月里她拼命表现, Tô Tình còn nói với tôi rằng, trong nửa tháng thử việc kia, cô ấy cố gắng hết sức để thể hiện mình,
努力想办法让公司留下自己; cố gắng nghĩ biện pháp để công ty giữ mình lại;
被转成为实习生之后, 她又不停地想办法转正, sau khi được chuyển thành thực tập sinh, cô ấy lại càng không ngừng nghĩ biện pháp trở thành nhân viên chính thức,
转正后又拼命想办法升职, 交出好作品. trở thành nhân viên chính thức rồi lại cố gắng nghĩ biện pháp thăng chức, làm tốt công việc được giao.
“我就一直想办法啊想办法, 其实只要你肯动脑子, “Tôi luôn nghĩ biện pháp và nghĩ biện pháp, thật ra chỉ cần bạn chịu động não,
就会发现什么专业啊, 现实啊, 都不能成为你的阻碍, 你最终会美梦成真的.” bạn sẽ phát hiện dù chuyên ngành nào, thực tế như thế nào, cũng không thể ngăn được bạn, giấc mộng của bạn cuối cùng sẽ trở thành sự thật.”
苏晴调皮地说. Tô Tình nói bông đùa.
苏晴的话令我深受鼓舞, 而几天之后, Những gì Tô Tình nói tôi rất ủng hộ, vài ngày sau,
我又在陈雯那里听到了一套截然不同的理论. tôi lại nghe được một lý luận hoàn toàn khác từ Trần Văn.
那天, 路过她的座位时, 我刚好听见她和另一位女同事在聊天. Hôm đó, khi tôi đi ngang qua chỗ ngồi của cô ấy, tôi tình cờ nghe thấy cô ấy đang nói chuyện phiếm với một đồng nghiệp nữ khác.
陈雯抱怨道, 自己当初读大学时偏偏报了个最冷门的专业, 导致找工作特别难; Trần Văn phàn nàn rằng lúc trước mình chọn vào học một chuyên ngành ít cơ hội xin việc nhất, nên lúc tìm việc quá khó khăn;
而且自己是女生, 现在的工作单位都青睐男生, 女生求职最吃亏; hơn nữa cô ấy là con gái, bây giờ các nơi tuyển dụng đều ưu ái con trai, con gái tìm việc rất khó khăn;
还有就是现在这个社会处处需要关系, còn nói xã hội bây giờ chỗ nào cũng cần quan hệ,
跟她同宿舍的女生就是靠家人帮忙进了一家事业单位, một người bạn ở cùng ký túc xá của cô ấy nhờ người nhà giúp đỡ mới xin được việc vào cơ quan nhà nước,
像她这种没背景没关系的女生, 根本就无法在社会上立足… một cô gái không có quan hệ, không có người giúp đỡ như cô ấy căn bản là không thể đứng vững trong xã hội…
旁边的同事轻声质疑道: Cô đồng nghiệp bên cạnh nhẹ nhàng hỏi:
“我听说苏总监也是学历史的, 人家怎么…” “Tôi nghe nói Tổng giám đốc Tô cũng tốt nghiệp chuyên ngành lịch sử, sao cô ấy…”
话还没讲完, 就被陈雯打断了: Cô gái kia còn chưa nói xong đã bị Trần Văn ngắt lời:
“没办法, 有些人运气就是好, 跟人家拼运气哪里能拼得过? “Làm thế nào được, có vài người rất may mắn, so sánh về độ may mắn thì tôi làm sao bằng người khác được?
当初要不是我爸妈逼着我读死书, 我现在也不至于混成这样…” Ngày xưa nếu cha mẹ tôi không ép tôi đọc mấy quyển sách khô khan đó, thì bây giờ tôi cũng không đến mức thế này…”
听了陈雯的话, 我完全明白了为什么两个人在毕业数年之后会产生这样的差距. Nghe Trần Văn nói vậy, tôi đã hoàn toàn hiểu lý do tại sao sau khi hai người tốt nghiệp vài năm đã có khoảng cách như vậy.
她们一个在努力想办法, 琢磨着如何让自己变好; Một người luôn cố gắng nghĩ cách, suy nghĩ làm thế nào để mình giỏi hơn;
另一个则拼命找借口, 为自己的无所作为开脱, 并不断强化消极的自我认知. người còn lại thì cố gắng kiếm cớ biện bạch cho sự thất bại của mình, luôn luôn suy nghĩ tiêu cực.
这样一来, 高下立见, 战斗力自然不可同日而语. Bởi vậy, có thể thấy ngay ai giỏi ai kém, tất nhiên không cần so sánh.
编辑:朱琪红 Biên tập: Chu kỳ hồng
来源:意林 Nguồn: Ý Lâm

Người dịch: Trịnh Văn Sơn

Nguồn: www. youth. cn

Leave a Reply

Đăng Nhập / Thoát

Email:
Password:
Remember   

Forgot Password