Categorized | Pу́сский

Mát-xco-va yêu dấu trong tôi

Mát-xco-va yêu dấu

 

Дорогая моя Москва – Евгений Гончаров

для bbcrussian.com

Mát-xco-va yêu dấu trong tôi

Я только что вернулся из очередного отпуска – с подругой путешествовали по Китаю. Шесть дней мы провели на Желтом море и на пару дней заскочили в Пекин. И в прошлом году я отдыхал в Китае, и в будущем, даст бог, туда поеду. Tôi và bạn gái vừa trở về sau chuyến du lịch ở Trung Quốc. Chúng tôi đã dành 6 ngày thăm thú vùng biển Hoàng Hải, sau đó đến Bắc Kinh trong vài ngày. Năm ngoái, tôi đã đến nghỉ ở Trung Quốc và trong tương lai, nếu có điều kiện tôi sẽ tiếp tục đến đây.
Китайские железные дороги, кроме пригородных маршрутов, обслуживаются поездами нового поколения, средняя скорость которых 120-150 км/час. Весь путь от Хэйхэ до Бэйдайхэ, включая пересадку в Харбине, мы проехали за 20 часов. Цены на проезд по “железке” в Китае просто смешные, пассажиры в вагоне смирные, проводники вышколенные, виды из окна познавательные. Hệ thống đường sắt ở Trung Quốc, ngoại trừ các tuyến đường xuyên suốt, đều phục vụ bằng các loại xe lửa thế hệ mới có vận tốc trung bình từ 120 đến 150 km/h. Chúng tôi đã đi trên tuyến xe lửa từ Bắc Hà đến Beidaike với trạm dừng ở Cáp Nhĩ Tân trong 20 giờ đồng hồ.
По китайским меркам, Бэйдайхэ даже и не город, а деревенька с населением чуть более полусотни тысяч. Морской курорт на этом месте был основан немецкими концессионерами, потом здесь поправляла здоровье партийно-государственная верхушка КНР, теперь этот приморский поселок отдан на откуп российским туристам. Theo tiêu chuẩn đánh giá ở Trung Quốc, Beidaike không gọi là  thành phố mà là làng quê với tổng dân số chỉ hơn 50 000 người. Khu nghĩ dưỡng ven biển này đã được những doanh nghiệp người Đức xây dựng, sau đó được chính quyền Trung Quốc cho tu bổ. Ngày nay, nơi đây thu hút rất nhiều khách du lịch Nga đến nghỉ dưỡng.
“Для нас, россиян, отдых в Бэйдайхэ просто рай земной. Хочешь, на велосипеде-тандеме катайся, надоело – надевай маску и ласты и за крабами ныряй.” Đối với chúng tôi, những người Nga, Baidaike đơn giản giống như thiên đường trên mặt đất. Chúng tôi muốn được đạp xe thư giãn, nghỉ ngơi, đeo mặt nạ và chân vịt để lặn biển,
Где бы ты ни оказался – на пляже, в парке, в ресторане, везде слышна родная русская речь, на каждом перекрестке – указатели на русском языке. Горничные, официанты, таксисты, продавцы магазинов и уличные торговцы – все понимают по-русски. Ở bất kì nơi nào – trên bãi biển, trong công viên, trong một nhà hàng, hay các bản tin được phát trên mọi góc phố – cũng đều bằng tiếng Nga . Người giúp việc , người phục vụ , tài xế taxi, trợ lý cửa hàng và người bán hàng rong – tất cả đều hiểu tiếng Nga .
Эта традиция идет с середины прошлого века, когда здесь был построен Дом отдыха иностранных специалистов – для консультантов из СССР, помогавших китайцам строить заводы, шахты и электростанции. Потом был длительный холодный период отношений между странами. С начала 1990-х опять потеплело. Тогда-то и облюбовали этот китайский курорт для семейного отдыха россияне среднего достатка. Thói quen này xuất phát từ giữa thế kỷ trước, khi người ta bắt đầu xây dựng nơi  nghỉ dưỡng cho các chuyên gia Liên Xô sang đây giúp Trung Quốc xây dựng nhà máy , hầm mỏ và nhà máy điện . Sau đó có một thời gian dài quan hệ giữa hai nước trở nên đóng băng. Kể từ đầu những năm 1990 , một lần nữa nó đã bắt đầu được hồi phục. Đó cũng là lúc người Trung Quốc chọn này dành cho kì nghỉ của các gia đình thuộc  tầng lớp trung lưu Nga .
Как дань уважения к русскому языку – в сквере у центрального входа стоит в полный рост белокаменный памятник М. Горькому. Забавная табличка на двери одного из корпусов: “По гостинице нельзя ездить на велосипеде”. Еще один перл на здешнем пляже: “Запрещается купаться в шторм пьяным и беременным женщинам”. Отец социалистического реализма в литературе нервно курит в стороне. Như một sự tôn trong với ngôn ngữ Nga – một tượng đài Maxim Gorky bằng đá trắng được đặt  gần lối vào chính trong một công viên . Một tấm biển vui trên cánh cửa của một trong những tòa: “Không đi xe đạp quanh khách sạn.” Một biển báo khác đặt trên bãi biển địa phương: “Cấm  phụ nữ say rượu và mang thai bơi trong cơn bão.” Cha đẻ của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học  lo lắng hút thuốc ở bên ngoài.
Для нас, россиян, отдых в Бэйдайхэ просто рай земной. Хочешь, на велосипеде-тандеме катайся, надоело – надевай маску и ласты и за крабами ныряй. Где еще русская женщина предоставит свое пышное тело рукам пляжного массажиста всего-то за 100 рублей. Где еще русский мужчина, не морща лоб подсчетами, закажет официанту бутылку бренди за 150 рублей. Жемчуг в Бэйдайхэ, не поверите, 25 рублей за нитку. Đối với chúng tôi, những người Nga, kì nghỉ ở Beidaihe chỉ đơn giản giống như thiên đường trên trái đất. Bạn có muốn đi xe đạp,  đeo mặt nạ và đuôi cá và lặn biển. Ở chỗ khác, người phụ nữ Nga sẽ được mát-xa bằng  tay trên bãi biển tuyệt vời chỉ với giá 100 USD. Trong khi đàn ông Nga, sẽ hài lòng khi người phục vụ đặt một chai rượu mạnh khoảng 150 rúp. Càng không thể tin được một viên Trân Châu ở Quảng Châu chỉ 25 rúp.
Немного испортили настроение медузы в море, но это уж как повезет, да и не ядовитые они были. Du khách có thể sẽ bị sứa biển làm tổn thương, nhưng may mắn là chúng không độc hại.
Три неполных часа на электричке, и мы уже ступили на перрон Пекинского вокзала. Gần ba giờ trên tàu, và chúng tôi đã đặt chân lên nhà ga xe lửa Bắc Kinh.
“Почему мы едем отдыхать не в Москву и в Сочи, а в Пекин и в Бэйдайхэ? Ответ банально прост. Денег, которые дальневосточники тратят на поездку в Пекин, им хватило бы лишь на авиаперелет до Москвы в один конец и на две-три ночевки там.” “Tại sao chúng ta không thăm những nơi còn lại ở Moscow và Sochi, và là đến Bắc Kinh và Quảng Châu? Câu trả lời cũ rích đơn giản. Tiền chi tiêu trên một chuyến đi đến Bắc Kinh, nó sẽ là chỉ đủ cho các chuyến bay đến Moscow trong một, hai hoặc ba đêm “.
Наш отель был в десяти минутах пешего хода от русскоязычной улицы Ябаолу. Сюда, как железные скрепки магнитом, притягивает туристов со всего постсоветского пространства. Уже четверть века торговые центры Ябаолу поставляют одежду, обувь и прочий ширпотреб в республики бывшего СССР. Khách sạn của chúng tôi cách đường phố Yabaolu mười phút đi bộ. Ở đây như sắt kẹp nam châm thu hút khách du lịch từ khắp Liên Xô cũ. Một trung tâm mua sắm Yabaolu trong một phần tư thế kỷ  đã cung cấp quần áo, giày dép và hàng hóa tiêu dùng khác trong các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ.
Нашей целью была покупка норковой шубы. На Ябаолу, наверное, самое большое в мире сосредоточение магазинов мехов – выбирай, торгуйся. Mục tiêu của chúng tôi là mua một chiếc áo khoác lông chồn.Ở Yabaolu có thể tập trung các cửa hàng lông thú lớn nhất thế giới – một món hời cho sự lựa chọn.
На Ябаолу развит русскоязычный сервис. Есть рестораны русской кухни “Москва”, “Сибирь”, “Маша”, а также магазины русских продуктов “Сеня” и “Юра”. Если вы соскучились по родине, ностальгию можно вылечить водкой “Столичная”, селедкой и ржаным хлебом. Trên Yabaolu phát triển dịch vụ bằng ngôn ngữ Nga. Có những nhà hàng ẩm thực Nga “Moscow”, “Siberia”, “Jane”, cũng như các cửa hàng sản phẩm của Nga, “Bennie” và “Jura”. Nếu bạn ở xa quê hương, nỗi nhớ có thể được bù đắp với vodka “Stolichnaya”, cá trích và bánh mì lúa mạch đen.
Иркутск, Якутск, Хабаровск, Владивосток – такова была география россиян, встреченных мною в этой поездке. Irkutsk, Yakutsk, Khabarovsk, Vladivostok – đây là vị trí địa lý của Nga tôi đã gặp trong chuyến đi này.
Я и моя подруга, например, не считая покупок, потратили на этот китайский тур по тысяче долларов. Поездка же по маршруту Благовещенск-Москва-Сочи-Благовещенск стоила бы в два-три раза дороже. У меня нет таких денег, как и у тысяч моих земляков. Но в сумме наши расходы в Китае выливаются в цифру со многими нулями. Это значит, что мы поддерживаем чужую экономику. Giả sử tôi và bạn gái của tôi không mua quà lưu niệm, chúng tôi chi cho tour du lịch Trung Quốc này khoảng một ngàn đô la. Một chuyến đi trên cùng một tuyến đường Blagoveshchensk-Moscow-Sochi Blagoveshchensk sẽ có chi phí 2-3 lần đắt hơn. Tôi không có số tiền đó, như hàng ngàn người đồng hương của tôi. Nhưng số lượng các chi phí của chúng tôi ở Trung Quốc chuyển thành một con số với nhiều số không. Điều này có nghĩa rằng chúng tôi hỗ trợ các nền kinh tế nước ngoài.
Россия теряет не только деньги. Многие юноши и девушки из Якутии, Приамурья и Приморья едут учиться в Харбин и в Пекин. Получить образование в вузах Санкт-Петербурга и Москвы им, вернее, их родителям, не по карману. Большинство этих молодых людей, выучившись в Китае, стремится остаться там. Башни Кремля и луковки Василия Блаженного они видели лишь по телевизору. Им ближе портрет Мао на вратах Тяньаньмэнь и загнутые кровли буддийского храма Юнхэгун. Nga không chỉ đang mất dần tiện bạc. Nhiều chàng trai và cô gái từ Yakutia, Amur và Primorye đi du học tại Cáp Nhĩ Tân và Bắc Kinh. Có được một nền giáo dục trong các trường đại học của St Petersburg và Moscow với họ, hay đúng hơn, cha mẹ không thể chi trả được. Hầu hết những người trẻ tuổi, học ở Trung Quốcvà có xu hướng ở lại đó. Những ngọn tháp của điện Kremlin và St Basil họ đã chỉ có thể thấy trên TV. Họ nhớ rõ chân dung của Mao Trạch Đông trên cổng Thiên An Môn và mái cong của một ngôi đền Phật giáo Lạt Ma.
Помните советскую песню: “Дорогая моя столица, золотая моя Москва”. В сегодняшней России она приобрела новое значение. Hãy nhớ lại một bài hát Liên Xô: ” Thủ đô yêu dấu,  Mat-xco-va bằng vàng” Ngày hôm nay ở Nga, nó đã có một ý nghĩa mới.

 

Người dịch: Tran Phuong Thao

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/russian/blogs/2013/09/130923_blog_dvornik_china_holiday.shtml

Đăng Nhập / Thoát

Email:
Password:
Remember   

Forgot Password